2.13.0-beta.20). Tính năng có thể thay đổi trước bản stable tiếp theo.Chuyển sang stable →ak api
ak api status
Đọc state process API AgentKit đã ghi mà không nhầm tệp state với kiểm tra process sống hoặc sức khoẻ.
Dùng ak api status để kiểm tra state do ak api start ghi. Lệnh chỉ đọc tệp
cục bộ; lệnh không liên hệ HTTP server hay provider upstream.
Cách dùng
ak api statusLệnh không nhận argument theo vị trí và không có cờ riêng. Các cờ dùng chung
được mô tả trong quy ước CLI. Lệnh không bao giờ hỏi;
--yes và --no-interactive không thay đổi query.
Lệnh kiểm tra điều gì
Lệnh đọc ~/.agentkit/api/state.json (AGENTKIT_HOME thay đổi thư mục gốc) và
chỉ xác minh cấu trúc JSON cùng phiên bản schema của state.
- Thiếu tệp state tạo
running: falsevà thoát0. - Tệp state đọc được, đúng phiên bản tạo
running: truevà thoát0. - Tệp state không đọc được, sai định dạng hoặc có phiên bản không hỗ trợ tạo lỗi.
running: true chỉ có nghĩa state record tồn tại. Lệnh không probe PID, không
gọi /health và không xác minh PID vẫn thuộc AgentKit. Vì vậy, tệp stale có
thể tạo kết quả running sai.
Để kiểm tra sức khoẻ process đang chạy, hãy dùng địa chỉ đã ghi để gọi
/health. Thêm bearer token nếu server được khởi động với token:
curl http://127.0.0.1:8765/healthĐầu ra dành cho người dùng và JSON
Khi không có tệp state, stdout dành cho người dùng là:
[i] api: server is not runningKhi record tồn tại, stdout báo PID, địa chỉ, thời điểm bắt đầu theo múi giờ cục bộ, uptime được tính và request count lưu trong tệp.
JSON thành công dùng kind=api.status. Với process đã ghi, data có thể chứa:
running, pid, port, bind_addr, started_at, request_count, uptimeTrường số bằng không và chuỗi rỗng bị lược bỏ. Vì started_at là giá trị thời
gian, payload not-running vẫn có zero timestamp:
{"schema_version":1,"kind":"api.status","data":{"running":false,"started_at":"0001-01-01T00:00:00Z"}}Server đang chạy không cập nhật tệp state sau khi khởi động. Request count
ban đầu bằng không, còn shutdown sạch sẽ xoá tệp. Vì vậy, lệnh status của CLI
không cung cấp bộ đếm request trực tiếp; hãy gọi endpoint /status của server
để đọc instrumentation counter trong bộ nhớ. Bộ đếm tăng một lần với route
cục bộ và hai lần với route proxy được chấp nhận.
Lỗi runtime JSON được ghi ra stderr với schema_version, error, error_code
và exit_code. Lỗi parse cờ có thể vẫn là hướng dẫn dùng dạng plain text.
Kết quả và mã thoát
| Mã thoát | Ý nghĩa | Bước tiếp theo an toàn |
|---|---|---|
0 | Đọc state thành công hoặc tệp state không tồn tại. | Branch theo data.running, rồi probe /health khi cần biết process còn sống. |
1 | Có positional argument không mong đợi, hoặc không thể resolve AgentKit home hay đọc, parse, kiểm tra version tệp state. | Sửa argument dư; nếu không, chỉ kiểm tra đường dẫn state được báo. |
2 | Parse cờ thất bại. | Sửa các cờ. |
Lệnh chỉ đọc và không có preview, apply, force, backup hay rollback. Nếu đã xác
nhận tệp state stale bằng danh sách process của hệ điều hành, chỉ xoá
~/.agentkit/api/state.json.