ak api
ak api
Chọn và vận hành API proxy foreground của AgentKit với ranh giới rõ ràng về bind, bearer token, trạng thái process và state bị stale.
Dùng ak api để tìm các lệnh chạy và kiểm tra HTTP API cùng provider proxy cục
bộ của AgentKit. Lệnh nhóm không khởi động server; lệnh chỉ in trợ giúp rồi
thoát.
Cách dùng
ak apiLệnh không nhận argument theo vị trí và không có cờ riêng. Các cờ dùng chung được mô tả trong quy ước CLI, nhưng cờ đầu ra không biến phần trợ giúp của nhóm thành kết quả trạng thái API.
Chọn lệnh vòng đời
| Mục tiêu | Lệnh | Kết quả |
|---|---|---|
| Bắt đầu phục vụ | ak api start | Chạy HTTP server ở foreground cho đến khi nhận interrupt hoặc SIGTERM. |
| Kiểm tra state đã ghi | ak api status | Đọc tệp state cục bộ và báo chi tiết process đã ghi. |
| Yêu cầu dừng | ak api stop | Gửi SIGTERM đến PID trong tệp state. |
Phần trợ giúp cha hiện có ví dụ ak api start --daemon, nhưng lệnh start
đã phát hành không có cờ --daemon. Hãy dùng process supervisor hoặc trình
quản lý background job của shell khi cần kiểm soát vòng đời nền.
Bề mặt server và tác động mạng
Theo mặc định, server lắng nghe tại 127.0.0.1:8765. Server cung cấp endpoint
JSON cục bộ /health, /status, /version, cùng các route reverse proxy dưới
/anthropic/, /openai/ và /gemini/. Request proxy liên hệ provider tương
ứng và có thể chèn credential provider đọc từ ~/.agentkit/config.yaml
(AGENTKIT_HOME thay đổi thư mục gốc).
Khi được cấu hình, bearer token bảo vệ mọi route. Bind không phải loopback bị
từ chối với mã 7 nếu token không resolve được từ --auth-token,
AK_API_TOKEN hoặc api.token trong config.
Route proxy còn từ chối header Host không phải loopback, đồng thời từ chối
browser origin không phải loopback hoặc không khớp Host. Vì vậy, listener
không phải loopback có bearer token không tự động làm provider proxy dùng được
qua hostname hay địa chỉ LAN. Hãy thử đúng route của client trước khi dựa vào
một tích hợp từ xa.
State process và ranh giới khôi phục
Trong khi phục vụ, AgentKit ghi ~/.agentkit/api/state.json chứa PID, địa chỉ
bind, port và thời điểm bắt đầu. Shutdown sạch sẽ xoá tệp này. Tệp không chứa
bearer token hay provider key và được ghi atomically trong thư mục riêng tư.
Status và stop tin vào state record này; chúng không xác minh identity của
executable. Record stale có thể bị báo là đang chạy, và PID được tái sử dụng có
thể khiến ak api stop gửi signal đến process khác. Trước khi dừng một record
có vẻ cũ, hãy so sánh PID và địa chỉ được báo với danh sách process của hệ điều
hành. Nếu record stale, chỉ xoá ~/.agentkit/api/state.json; không xoá toàn bộ
thư mục home AgentKit.
Đầu ra và mã thoát
ak api trần in trợ giúp Cobra ra stdout và thường thoát 0. Lệnh không phát
success envelope api.* vì chưa có thao tác vòng đời nào chạy. Cờ không hợp lệ
thoát 2 và có thể in hướng dẫn dùng dạng plain text ngay cả khi có --json.
Subcommand không tồn tại hoặc positional token dư đi theo đường lỗi runtime
chung và thoát 1.
Các subcommand có hợp đồng đầu ra và mã thoát riêng. Cụ thể, "not running" là
thành công với cả status và stop, còn thao tác start bind không an toàn dùng mã
thoát 7.